HỘI CHỨNG MÀNG NÃO.

By | 15/10/2013

I. ĐẠI CƯƠNG.
Màng não bao bọc hệ thần kinh trung ương. Màng
não bao gồm 3 lá:
– Màng cứng: là một màng xơ nằm sát vỏ xương.
– Màng mềm: phủ trực tiếp lên mô thần kinh, là mô
rất giàu mạch máu, phân phối khắp bề mặt của
não.
– Màng nhện: nằm ở giữa hai màng trên, cách màng
cứng bởi một khoảng ảo, cách màng mềm bởi
khoang dưới nhện khoang này là nơi lưu thông
nước não tuỷ.
Màng có liên quan trực tiếp tới vỏ não và các
dây thần kinh sọ não. Vì vậy, khi viêm màng
não có thể gây tổn thương đại não, và các dây
thần kinh sọ não.
Hội chứng màng não do nhiều nguyên nhân gây
ra.
Dù nguyên do gì trên lâm sàng, người ra cũng
thấy một số triệu chứng chức năng và thực thể
nhất định.
II. TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG.
1. Tam chứng màng não.
1.1. Nhức đầu:
Là triệu chứng chủ yếu.
o Nhức đầu dữ dội, lan toả, liên tục, thỉnh thoảng
có từng cơn kịch liệt hơn.
o Nhức đầu tăng khi có tiếng động, có ánh sáng
chói mắt hay khi cử động thay đổi tư thế. Vì vậy
làm người bệnh phải nằm yên và quay mặt vào
bóng tối.
1.2. Nôn:
Nôn vọt, nôn dễ dàng, còn mạnh khi thay đổi tư thế.
1.3. Táo bón:
Táo bón kéo dài, không kèm theo chướng bụng
2. Những triệu chứng kích thích chung.
2.1. Co cứng cơ:
Triệu chứng này rõ ràng và ít khi thiếu. Ở chi trên
chủ yếu là co cơ gấp.
Ở chi dưới, thân và mình, chủ yếu là co cơ duỗi, do
đó người bệnh ở tư thế rất đặc biệt: đầu ngửa ra
sau, chân co vào bụng, (tư thế cò súng).
Sự co cứng ấuy biểu hiện bằng các dấu hiệu như
sau:
2.1.1. Dấu hiệu cứng gáy:
Để người bệnh nằm ngửa, đầu không gối. Một tay
đỡ nhẹ phía trước ngực, một tay để phía sau gáy
nâng nhẹ đầu lên, ta thấy gáy duỗi cứng, cằm
không gập vào ngực được, đồng thời cả ngực
người bệnh cũng nhấc lên theo. Cần phải làm
nhiều lần để tránh nhận định nhầm lẫn do người
bệnh cưỡng lại.
2.1.2. Dấu hiệu Keruig:
Người bệnh nằm ngửa, chân duỗi thẳng. Tay phải
nâng từ từ hai chân theo hướng thẳng góc với
mặt giường 20 độ, 30 độ, 40 độ, người bệnh đã
kêu đau và phải gập lại mới chịu được.
Lúc đó ta bảo Kernig + 20 độ + 30 độ + 40 độ.
2.1.3. Dấu hiệu Brudzinski:
Người bệnh nằm ngửa, chân duỗi thẳng. Tay trái để
vào bụng người bệnh, tay phãi nâng người bệnh
sao cho thân người bệnh thẳng góc với giường.
Nếu có hiện tượng co cứng, ta thấy cẳng chân gập
vào đùi, đùi gập vào bụng, làm cho khi ta nâng
ngừoi bệnh chân phải co lại.
2.2. Tăng cảm giác đau:
Vì tăng cảm giác đau nên khi ta bóp nhẹ cơ, gãi
vào da hay châm nhẹ kim vào da, người bệnh kêu
đau, phản ứng lại rất mạnh.
2.3. Sợ ánh sáng:
Chính sợ ánh sáng cũng là làm tăng cảm giác đau.
Aùnh sáng là một kích thích đau làm chói mắt
người bệnh. Vì vậy người bệnh thích quay mặt
vào chỗ tối.
2.4. Tăng phản xạ:
Các phản xạ gân xương thường tăng hơn bình
thường.
2.5. Rối loạn thần kinh giao cảm:
o Mặt khi đỏ, khi tái.
o Dấu hiệu vạch màng não (+). Lấy móng tay hoặc
một kim cùn vạch nhẹ nhiều đường trên da bụng
người bệnh, bình thường, sau khi vạch, xuất hiện
các đường vạch đỏ nhưng mau mất. Trong hội
chứng màng não, vết vạch đỏ thẩm hơn và tồn
tại lâu mới mất.
III. NHỮNG TRIỆU CHỨNG KÍCH THÍCH NÃO
VÀ TỔN THƯƠNG NÃO.
Màng não nằm sát ngay đại não, mỗi khi màng
não bị tổn thương, đều có thể ảnh hưởng đến
đại não gây những kích thích hay tổn thương thực
sự.
1. Rối loạn tinh thần.
Có thể thấy:
o Ý thức lơ mơ, có khi lú lẫn hoặc mê sảng.
o Kích động hay sầu uất.
o Có khi đái dầm, ỉa đùn.
2. Tổn thương các dây thần kinh sọ não:
Nền não rất gần các dây thần kinh sọ. Tổn thương
vùng nền não, có thể gây tổn thương các dây
thần kinh sọ não. Các tổn thương thường gặp
nhất là:
o Rối loạn vận nhãn cầu, sụp mí, song thì, giãn
đồng tử hoặc rối loạn thị giác.
o Liệt dây VII (xem bài riêng).
Đứng trước một người bệnh có triệu chứng lâm
sàng như trên chỉ có thể nghi ngờ là hội chứng
màng não. Muốn chắc chắ phải chọc dò não tuỷ.
IV. CHỌC DÒ MÀNG NÃO.
Triệu chứng quan trọng để chẩn đoán xác định và
chẩn đoán nguyên nhân hội chứng màng não là
chọc dò nước não tuỷ.
Bình thường nước não tuỷ trong như nước suối, áp
lực khi nằm là 12cm nước, khi ngồi 20cm nước.
Khi xét nghiệm sẽ thấy:
– Tế bào: 0 – 3/mm3.
– Anbumin: 0,14 – 1,45%0.
– ClNa: 7g – 8,8%0.
– Glucoza: 0,50g – 0,75%0.
– Vi khuẩn: không có
Trong hội chứng màng não, có thể gặp ba loại
nước sau đây:
1. Nước tuỷ có máu:
Do chảy máu màng não. Nếu mới bị, sẽ thấy nước
đỏ hồng. Nếu bị lâu, có thể nước màu vàng, cũng
có khi phải soi kính hiển vi mới thấy hồng cầu.
Cần phân biệt với trường hợp nước não tuỷ khi lấy
kim chọc vào mạch máu. Trường hợp này, nếu
quan sát sẽ thấy những giọt nước não tuỷ càng
về sau càng nhạt màu hơn. Để lâu sẽ đông lại.
Xét nghiệm:
o Anbumin: hơi tăng (do anbumin có ở hồng cầu).
o Sinh hoá: bình thường.
o Vi khuẩn: không có.
2. Nước não tuỷ đục hoặc có mủ rõ rệt:
Do viêm màng não mủ, gây ra bởi tạp khuẩn.
Nước não tuỷ có mủ rõ rệt và chỉ hơi vẩn đục, nhiều
khi phải lắc ống nghiệm mới thấy rõ.
Khi xét nghiệm sẽ thấy:
o Về tế bào: nhiều bạch cầu, đa số là bạch cầu đa
nhân thoái hoá.
o Về sinh hoá: Anbumin tăng, glucoza, ClNa hạ.
o Về vi khuẫn: soi tươi có thể thấy vi khuẩn gây
bệnh, có khi phải nuôi cấy để xác định vi khuẩn.
3. Nước não tuỷ trong:
Có khi do lao, virut, phải xét nghiệm để xác định
từng loại:
Hội chứng màng não do rất nhiều nguyên nhân gây
nên. Chẩn đoán hội chứng màng não nhiều khi
rất dễ, song chẩn đoán nguyên nhân có khi rất
khó.
Thầy thuốc cần phải xác định lâm sàng, cận lâm
sàng, tiền sử bệnh để xác định sớm nguyên nhân,
có hướng điều trị.
V. CHẨN ĐOÁN NGUYÊN NHÂN.
Thông thường nhất là bệnh ở màng não.
1. Nước màng não có máu:
Có thể do:
1.1. Chấn thương sọ não:
Do ngã hoặc do tai nạn xe cộ. Hoàn cảnh xuất hiện
sẽ giúp ta xác định.
1.2. Chảy máu màng não:
o Do tăng huyết áp: bệnh cảnh xảy ra đột ngột, ở
người đã có tiền sử tăng huyết áp từ lâu. Đo
huyết áp thấy khá cao. Thường có phối hợp chảy
máu não, lúc ấy có thể thấy tổn thương thần
kinh khu trú.
o Do vở mạch m áu trong phình động mạch bẩm
sinh: thường gặp ở người trẻ, bệnh ít gặp.
o Do bệnh máu: có thể do bệnh bạch cầu cấp và
mạn tính, bệnh sinh chảy máu (hémogénie).
Người bệnh chẳng những bị chảy máu màng não
mà còn bị chảy máu ngoài da và các phủ tạng
khác. Đồng thời có những biểu hiện của bệnh
chính.
2. Nước màng não có mủ:
Viêm màng não mủ thường do các tạp khuẩn. Các
vi khuẩn thông thường nhất là:
2.1. Não mô cầu:
Loại này thường nhẹ, những dễ gây thành dịch.
Bệnh lây qua đường hô hấp hoặc tiêu hoá.
Người bệnh bị sốt cao 39 – 400. có những cơn rét
run. Có khi kèm theo ban ngoài da. Hội chứng
màng não rõ rệt.
Chẩn đoán dựa vào chọc dò tuỷ sống.
Sẽ thấy:
+ Vi khuẩn: soi trực tiếp thấy cầu khuẩn Gram +,
hình hạt cà phê.
+ Sinh hoá: Anbumin tăng, Glucoza, ClNa hạ.
+ Tế bào: rất nhiều bệnh bạch cầu, đa số là đa
nhân trung tính.
2.2. Phế cầu:
Thường gặp ở trẻ con hơn người lớn. Và thường là
biến chứng sau viêm xoang, viêm tai, viêm phỗi…
Hội chứng màng não đôi khi bị che lấp bởi bệnh
tiên phát.
Chọc tuỷ sống sẽ thấy:
+ Vi khuẩn: soi trực tiếp sẽ lấy loại song cầu (nuôi
cấy sẽ thấy chắc hơn).
+ Về sinh hoá và tế bào, giống loại não mô cầu.
2.3. Tụ cầu và liên cầu:
Ít gặp hơn. Thường rất nặng. Chẩn đoán cũng dựa
vào chọc tuỷ sống, soi trực tiếp hoặc nuôi cấy sẽ
thấy rõ loại vi khuẩn gây bệnh.
Tóm lại, viêm màng não mủ phần lớn do tạp khuẩn,
muốn chắc chắn loại nào phải xác định bằng
cách trực tiếp hoặc nuôi cấy nước não tuỷ.
3. Nước não tuỷ trong.
Có thể gặp trong các bệnh:
3.1. Lao:
Thường là lao màng não thứ phát của của một tổn
thương lao khác như lao kê, lao phổi, lao sơ
nhiễm… Cần phải phát hiện các lao tiên phát và
tiến hành các xét nghiệm để phát hiện lao chung
như: Xquang phổi, BCG tét, BK trong đờm.
Xét nghiệm nước não tuỷ sẽ thấy:
+ Về sinh hoá: Anbumin tăng, Glucoza, ClNa: hạ,.
+ Về tế bào: nhiều bạch cầu, đa số là tân cầu.
+ Về vi khuẩn: tìm thấy BK bằng soi trực tiếp, nuôi
cấy trong môi trường Loweinstein hoặc tiêm
chủng chuột bạch. Đây là xét nghiệm cơ bản để
xác định bệnh.
3.2. Về virut:
Bệnh cấp nhưng lành tính. xét nghiệm nước não tuỷ
sẽ thấy:
+ Về sinh hoá: Glucoza và ClNa bình thường,
Anbumin tăng ít.
+ Về tế bào: tăng rất nhiều bạch cầu, phần lớn là
tân cầu (có hiện tượng phân ly đạm tế bào).
Tóm lại hội chứng màng não thường gặp trên lâm
sàng. Chẩn đoán xác định tương đối dễ, dựa trên
triệu chứng màng não, các triệu chứng chức
năng, thực thể. Nhưng muốn chắc chắn phải chọc
dò tuỷ sống, nhất là muốn tìm nguyên nhân,
không chọc tuỷ sống không thể xác định chắc
chắn.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *