RỐI LOẠN Ý THỨC

By | 16/04/2014

I. KHÁI NIỆM CHUNG VỀ Ý THỨC 
1. Theo nghĩa rộng (triết học, giáo dục học, tâm lý học): 
a) Định nghĩa
Ý thức là một hoạt động tổng hợp các quá trình tâm thần khác nhau, có đặc tính phản ánh ở mức cao nhất, toàn diện và chính xác nhất hiện thực khách quan. Tóm lại đó là toàn bộ sự hiểu biết của con người về thiên nhiên, xã hội và bản thân. 
b) Cơ sở vật chất của ý thức là bộ não của con người
Bộ não súc vật các cấp có tạo nên được ý thức không? Không, vì hoạt động tâm thần ở chúng chỉ phát triển đến mức tư duy cụ thể, đơn giản (vượn người: Ví dụ chúng có thể biết dùng que, trèo cao để hái quả). Chỉ ở con người mới có tư duy trừu tượng và cao hơn là ý thức. 
c) Sự xuất hiện của ý thức
Ý thức có phải là bẩm sinh không? Không, mà chỉ có cơ sở vật chất của ý thức (bộ não người) là bẩm sinh mà thôi. 
Điều kiện để cho ý thức hình thành là thông qua lao động và lời nói, đó là phương tiện giao tiếp giữa người và người. 
d) Cơ sở sinh lý học của ý thức
Ý thức là một hoạt động tổng hợp toàn vẹn và phức tạp của hệ thần kinh từ cơ quan tiếp thu kích thích ngoại biên cho đến tận cùng của các phân tích quan ở vỏ não. Vỏ não làm nhiệm vụ phân tích, tổng hợp các kích thích hiện tại trong mối liên hệ phức tạp với dấu vết các kích thích cũ. 
Điều kiện cơ bản để tồn tại hoạt động có ý thức là: 
– Con người phải ở trong trạng thái tỉnh táo.
– Vỏ não phải ở trong trạng thái hưng phấn (nhờ quá trình hoạt hoá từ dưới vỏ mà chủ yếu là từ cấu tạo lưới đến vỏ não). 
e) Cấu trúc của ý thức (từ thấp đến cao) bao gồm
– Quá trình nhận thức cảm tính: Là cảm giác và tri giác, đem lại cho chúng ta hình ảnh của sự vật, hiện tượng. Những hình ảnh này cho chúng ta thấy được sự tồn tại của thế giới khách quan, làm ranh giới giữa thức và ngủ, giữa bình thường và bệnh lý. 
– Nhận thức lý tính: Chủ yếu là tư duy, giúp con người nhận thức được các mối liên hệ giữa các sự vật hiện tượng. Mà những mối liên này có những cái mang tính quy luật, biểu thị được bản chất của sự vật (điều này không thể nhận biết được bằng cảm giác, tri giác). Chính nhờ nhận thức lý tính này đã mở rộng rất nhiều khả năng và phạm vi hiểu biết của con người. 
– Hoạt động: Là bậc cao nhất của ý thức. 
Phần lớn những hiểu biết, kiến thức của con người được truyền lại theo cơ chế lĩnh hội kinh nghiệm xã hội lịch sử và diễn ra trong quá trình hoạt động và giao tiếp. 
Những kiến thức hiểu biết đó lại được đưa ra sử dụng trong hoạt động và mọi hoạt động của con người đều nhằm vào việc chinh phục đối tượng để thoả mãn nhu cầu. Cứ như vậy, kiến thức của nhân loại được nhân lên mãi. 
2. Theo nghĩa trong lâm sàng Tâm thần học. 
Ý thức được hiểu theo nghĩa hẹp hơn. Chủ yếu ở đây là nghiên cứu mức độ sáng sủa, tỉnh táo của tâm thần, nghiên cứu mức độ nhận thức của bệnh nhân về bản thân mình và mối liên hệ giữa bản thân mình với môi trường xung quanh. Bao gồm: 
a) Định hướng không gian: Biết mình đang ở đâu, chỗ mình ở cách trung tâm thành phố bao xa… 
b) Định hướng thời gian: Biết ngày, tháng, năm, giờ… 
c) Định hướng bản thân: Biết lý lịch về bản thân mình, biết trạng thái bệnh tật của mình… 
d) Định hướng về những người xung quanh: Biết những người xung quanh mình là ai, làm gì… 
II. CÁC HỘI CHỨNG RỐI LOẠN Ý THỨC
Thường chia ra 2 loại lớn: 
– Các hội chứng ý thức bị loại trừ. 
– Các hội chứng ý thức bị mù mờ.
Sự phân chia này cũng chỉ có tính chất tương đối và quy ước, ví dụ nhiều triệu chứng của các hội chứng khác nhau lại có trong một trạng thái như trạng thái mê sảng – lú lẫn, trạng thái hoàng hôn còn định hướng… hoặc trong hội chứng ảo giác – Paranoid khó nhận định là ý thức có bị rối loạn không?. 
A. Các hội chứng ý thức bị loại trừ:
Dựa vào các tiêu chuẩn: 
a) Năng lực định hướng. 
b) Khả năng phản ứng trước kích thích của môi trường. 
c) Các phản xạ thần kinh thể hiện mức độ bị ức chế. 
d) Không có các triệu chứng tâm thần nặng như ảo giác, hoang tưởng, kích động… 
– Tiến triển: Có thể xuất hiện và tiến triển từng mức độ từ hội chứng u ám đến hội chứng hôn mê hay có thể xuất hiện ngay hội chứng bán hôn mê hoặc hôn mê tuỳ theo cường độ tác động của nhân tố có hại đối với hoạt động của não. 
– Thường gặp ở những bệnh nhân có tổn thương thực thể ở não và bệnh cơ thể có ảnh hưởng nhiều đến hoạt động của não. 
Các hội chứng ý thức bị loại trừ:

Các tiêu chuẩn
Hội chứng ý thức u ám
Hội chứng ngủ gà
Hội chứng bán hôn mê
Hội chứng hôn mê
Năng lực định hướng Rối loạn nhẹ, ý thức như bị phủ sương mù, BN còn phân biệt không gian, thời gian, bản thân. Định hướng về không gian, thời gian, bản thân không rõ ràng, khi mất, khi còn. Mất hoàn toàn Mất hoàn toàn
Khả năng phản ứng với kích thích (gọi, lay, cấu véo, châm kim) Phản ứng với kích thích chậm chạp, không hiểu ngay nội dung câu hỏi, bàng hoàng, ngơ ngác. Chỉ phản ứng với những kích thích mạnh (lay gọi, hỏi to, hỏi nhiều lần). Không phản ứng với yêu cầu bác sĩ. Châm kim thật đau mới có phản ứng. Không phản ứng
Phản xạ thần kinh thể hiện mức độ bị ức chế Giảm các phản xạ đồng tử với ánh sáng, phản xạ giác mạc, phản xạ gân xương giảm nhiều Mất các phản xạ
Xuất hiện phản xạ bệnh lý Phản xạ bệnh lý xuất hiện rõ Phản xạ bệnh lý xuất hiện rõ
Trí nhớ Còn Quên không hoàn toàn Quên hoàn toàn Quên hoàn toàn
Đặc điểm của hội chứng Có thể là giai đoạn khởi đầu để chuyển sang các hội chứng ý thức bị mù mờ. Chỉ còn hoạt động của các trung khu quan trọng bảo đảm đời sống thực vật như tuần hoàn, hô hấp.

B. Các hội chứng ý thức bị mù mờ
(Có rối loạn tâm thần nặng kèm theo). 
Các hội chứng này có 4 đặc điểm chung sau: 
– Bệnh nhân tách rời khỏi thế giới bên ngoài: Tri giác khó khăn hoặc mất tri giác sự vật xung quanh. 
– Bệnh nhân có rối loạn nhiều hoặc mất các năng lực định hướng. 
– Tư duy rời rạc, phán đoán suy yếu hoặc không phán đoán được. 
– Nhớ từng mảng hoặc quên các sự việc xảy ra trong cơn. 
Các hội chứng ý thức bị mù mờ

Hội chứng
Mê sảng
Mê mộng
Lú lẫn
Hoàng hôn
Hay gặp trong Nhiễm khuẩn, nhiễm độc TTPL, ĐK, bệnh thực thể não Nhiễm khuẩn, nhiễm độc, bệnh thực thể não ĐK, CTSN, bệnh thực thể não
Thời gian Thường 2-3 ngày, có thể đến 7-8 ngày Vài ngày hoặc vài tuần Thường 3-4 tuần, có thể hàng tháng Thời gian ngắn
Đặc điểm – Phát triển cấp tính. 
– Nặng về chiều tối. 
– BN là khán giả của AG
– BN vừa sống trong chiêm bao, vừa sống trong cảnh thực
– BN vừa là khán giả, vừa là diễn viên (nghĩa là tham gia hoạt động cùng AG)
– BN không tiếp xúc được. 
– Đặc trưng là trạng thái bàng hoàng, ngơ ngác (do rối loạn trầm trọng định hướng xung quanh, bản thân)
– Xuất hiện đột ngột rồi kết thúc cũng đột ngột. 
– Cơn tự động lang thang, cơn miên hành (hay nguyệt hành) khi không có HT, AG.
Năng lực định hướng – Định hướng môi trường xung quanh rối loạn nặng, định 
hướng không gian thời gian lệch lạc. 
– Còn định hướng về bản thân. Thỉnh thoảng tỉnh táo trở lại một thời gian ngắn.
Định hướng về bản thân rối loạn nặng hơn mê sảng. – Rối loạn nặng nhất: Biểu hiện bằng tư duy rời rạc, bàng hoàng ngơ ngác. – Trạng thái ý thức thu hẹp, nửa tối, nửa sáng.
Tri giác Rất nhiều rối loạn: ảo tưởng, ảo ảnh kỳ lạ, AG thường sinh động, rực rỡ, mang tính rùng rợn, ghê sợ. Ảo thị thường thấy côn trùng, động vật rất nhỏ di động. – Nội dung AG phần lớn là những cảnh tượng kỳ quái, khuếch đại: BN sống ở nơi xa lạ, thần tiên, hoang đường, cảnh cổ tích. Có thể có tính chất trầm cảm mở rộng: Sự sụp đổ vũ trụ… – BN chỉ tri giác những đối tượng lẻ tẻ bên ngoài, không thể tổng hợp được. Ví dụ: không xác định được đồ vật dùng để làm gì. 
– AG lẻ tẻ, rời rạc thường xuất hiện về đêm.
– Thường có ảo thị ghê rợn như bắn giết, tấn công BN. 
– Có thể có ảo thanh ra lệnh
Tư duy – Có thể có HT cảm thụ (HT nhận nhầm). 
– HT rời rạc, gắn liền với nội dung của AG.
– HT cảm thụ (nhận nhầm). HT kỳ quái, hoang đường, thần tiên, âm phủ hoặc tính chất trầm cảm mở rộng. – Lời nói gồm những từ rời rạc không liên quan, khó hiểu. 
– Hay nói lặp đi lặp lại. 
– HT lẻ tẻ, rời rạc, thường xuất hiện về đêm.
– Thường có HT cảm thụ cấp.
Cảm xúc – Không ổn định: 
Căng thẳng, hoảng hốt, lo âu (do AG).
– Nét mặt thường đơn điệu, đờ đẫn, thờ ơ, không lo âu, căng thẳng như trong mê sảng. – Rất không ổn định: Lúc khóc, lúc cười, lúc bàng quan, lúc trầm cảm. Thường là bàng hoàng ngơ ngác. – Trong cơn thường là loạn cảm: Hỗn hợp giữa cảm xúc căng thẳng, buồn rầu, lo lắng và hung dữ.
Hành vi – Phản ứng mãnh liệt với nội dung HT, AG nên mang tính chất kích động nguy hiểm (tự vệ hay tấn công). – Tác phong không ăn khớp với nội dung cảnh mộng: BN sống say mê, hoạt động cùng AG nhưng bên ngoài thường ít cử động hay bất động. Có thể có kích động nhưng đơn điệu, vô nghĩa. – Kích động trong phạm vi giường nằm, động tác rời rạc, vô nghĩa như ném lung tung, rùng mình, uốn éo, vặn vẹo, dang tay… 
– Về đêm kích động giống mê sảng (phản ứng với ảo thị).
– Hành vi động tác thường có tính kế tục, người ngoài không biết BN đang ở trong trạng thái hoàng hôn để đề phòng. 
– Hành vi hết sức nguy hiểm: Phá hoại, giết người tàn bạo.
Trí nhớ – Sau cơn nhớ rời rạc từng mảng, không đều. 
– Những lúc ý thức sáng sủa thì nhớ đầy đủ hơn.
– Sau cơn BN nhớ rất chi tiết cảnh mộng. 
– Cảnh thực xen kẽ vào thì nhớ rất ít hoặc không nhớ.
– Sau cơn BN quên hoàn toàn. – Sau cơn BN quên hoàn toàn. 
– Đôi khi, ngay sau khi vừa tỉnh lại, BN có thể nhớ một số sự việc lẻ tẻ, nhưng sau đó lại quên ngay.

Nguồn Benhhoc.com

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *