SINH LÝ THỤ TINH, LÀM TỔ VÀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA TRỨNG

By | 29/03/2014

Đại cương 

– Định nghĩa: sự thụ tinh là sự kết hợp giữa một tế bào đực là tinh trùng với một tế bào cái là noãn để thành một tế bào mới là trứng.
– Sự thụ thai là sự thụ tinh kèm theo sau đó là sự làm tổ của trứng.
– Sau khi làm tổ, trứng phát triển thành thai và phần phụ của thai.
– Phần phụ của thai còn được gọi là phần phụ của trứng gồm bánh rau, màng rau, dây rau và nước ối.
– Hiểu được quá trình thụ tinh và phát triển của trứng bình thường, từ đó ứng dụng trong chăm sóc và quản lý thai nghén:
+ Theo dõi và đề phòng những tác nhân có thể ảnh hưởng đến quá trình thụ thai và làm tổ của trứng.
+ Phát hiện được những thai nghén bất thường (chửa ngoài tử cung, thai lưu, chửa trứng…).
+ Nếu bất thường ở thời kỳ sắp xếp tổ chức: bất thường trong quá trình phân chia của trứng, có những yếu tố tác động bất lợi (nhiễm virus, nhiễm tia xạ, dùng thuốc có ảnh hưởng đến thai) gây thai dị dạng, thai bất thường.
+ Nếu bất thường ở thời kỳ hoàn chỉnh tổ chức: mẹ thiếu dinh dưỡng, mẹ mắc các bệnh mãn tính, mẹ cao huyết áp gây suy dinh dưỡng bào thai.
1. Sự thụ tinh
Ở người, ngay từ năm 1787, Spallanzani đã chứng minh sự cần thiết phải có sự kết hợp tinh trùng với noãn và gọi là hiện tượng thụ tinh, thì mới trở thành trứng và phát triển thành thai trong tử cung.
1.1. Tinh trùng
Tinh trùng có chiều dài 65 m được sản xuất từ tinh nguyên bào nằm trong ống sinh tinh của tinh hoàn.Tinh bào trưởng thành gọi là tinh trùng. Mỗi tinh trùng gồm 3 phần:
– Đầu: hình bầu dục, phần trước có nguyên sinh chất, phần sau là một nhân to có nhiễm sắc thể.
– Thân: ở giữa có dây trục, nằm ở giữa các dây xoắn ốc, gần phía đầu có trung thể.
– Đuôi: là phần dài nhất, ở giữa có dây trục

1.1.1. Các đặc điểm của tinh trùng

– Số lượng từ 60 – 120 triệu/ ml tinh dịch.
– Tỷ lệ hoạt động (lúc mới phóng tinh) trên 80%
– Tốc độ di chuyển là 1,5 – 2,5 mm/1 phút
– Thời gian sống trong đường sinh dục nữ phụ thuộc vào độ pH của môi trường
+ Ở âm đạo pH toan tinh trùng sống được < 2giờ.
+ Ở ống cổ tử cung: pH > 7,5 tinh trùng sống được 2 – 3 ngày.
+ Trong vòi trứng: tinh trùng sống được 2 – 3 ngày.
Tóm lại trung bình tinh trùng có thể sống trong bộ phận sinh dục nữ từ 2 – 3 ngày.
1.1.2. Dị dạng về hình thể tinh trùng:
Có thể gặp tinh trùng dị dạng trong tinh dịch bình thường nhưng tỷ lệ dị dạng không được quá 10%.
– Tinh trùng 2 đầu, thân dính vào nhau và có 2 đuôi.
– Tinh trùng 2 đầu cùng thân.
– Tinh trùng 2 đầu, thân dính nhau, chung một đuôi.
1.1.3. Nơi sản sinh ra tinh trùng:
Tinh hoàn sản sinh ra tinh trùng. Trong tinh hoàn có các ống sinh tinh, trong ống sinh tinh có những tinh nguyên bào là những tế bào nguyên thuỷ của tinh trùng.
Tinh nguyên bào có 46 NST
Phân bào lần I (phân bào nguyên nhiễm) Tinh bào loại I có 46 XY.
Phân bào lần II (phân bào giảm nhiễm) Tinh bào loại II có 23X và 23Y.
Sau đó tiếp tục phân bào thành tiền tinh trùng và tinh trùng trưởng thành 23X hoặc 23Y.
1.2. Noãn bào
– Trong buồng trứng có các nang trứng nguyên thuỷ, ở trẻ sơ sinh gái có 1.200.000 – 1.500.000 nang noãn nguyên thuỷ. Từ tuổi dậy thì đến mãn kinh có 400 – 500 nang noãn trưởng thành, còn phần lớn thoái triển và teo đi.
– Nang nguyên thuỷ phát triển thành noãn bào 1. Noãn bào 1 có 46 nhiễm sắc thể. Noãn bào 1 phân chia gián phân giảm số cho 1 noãn bào II và 1 cực cầu I. Mỗi noãn bào II chỉ có 23 nhiễm sắc thể. Noãn bào II phân chia gián phân nguyên số cho 1 noãn bào chín và 1 cực cầu II. Noãn bào chín có 23 nhiễm sắc thể trong đó có 22 nhiễm sắc thể thường và 1 nhiễm sắc thể giới tính X. Noãn trưởng thành có kích thước 100 – 150m, nó được phóng ra từ nang Graff với nhiều lớp tế bào hạt bao bọc xung quanh.
– Cấu trúc của noãn có vỏ bọc gọi là màng trong suốt, trong chứa nguyên sinh chất và có một nhân to lệch về một phía. Khi noãn được phóng ra ngoài thì loa vòi trứng hứng lấy noãn và đưa về vòi trứng.

 1.3. Di chuyển của tinh trùng và noãn

Tinh trùng và noãn đều phải di chuyển được đến địa điểm để thụ tinh thường ở 1/3 ngoài của vòi trứng. Nhưng đoạn đường và cách thức di chuyển của tinh trùng và noãn không giống nhau.
1.3.1. Di chuyển của tinh trùng:
– Khi giao hợp tinh trùng được trộn với tinh tương để trở thành tinh dịch tống vào âm đạo qua cổ tử cung tử cung 1/3 ngoài của vòi trứng.
– Tốc độ di chuyển 1,5 – 2,5 mm/ phút.
– Thời gian cần thiết để tinh trùng tới nơi thụ tinh khoảng 90 – 120 phút.
– Ngoài khả năng tự di chuyển của tinh trùng nhờ có đuôi còn có thêm nhiều yếu tố khác tác động vào, nên thời gian tinh trùng đến nơi thụ tinh có thể ngắn hoặc dài hơn bình thường. Các yếu tố khác như:
+ Nhu động của tử cung và vòi trứng.
+ Luồng dịch vận chuyển trong tử cung và vòi trứng.
+ Tác động của các đoạn thắt sinh lý: lỗ trong cổ tử cung, lỗ trong vòi trứng.
+ Tác động của các nhung mao của niêm mạc tử cung và vòi trứng.
1.3.2. Di chuyển của noãn
Noãn sau khi phóng ra khỏi bọc Graff vài giờ sẽ tới 1/3 ngoài vòi trứng để thụ tinh nếu gặp tinh trùng. Cơ chế chưa được rõ ràng.
– Có thuyết cho rằng: noãn bị hút về phía vòi trứng là do tác động phối hợp của nhu mô vòi trứng và các nhung mao trong vòi trứng. Tác động đó càng mạnh nếu các tua của loa vòi trứng càng gần noãn.
– Một thuyết khác nêu lên vai trò của chất dịch thường có trong ổ bụng, chất dịch này luôn luôn chuyển động về phía loa vòi trứng nên hút noãn theo về hướng đó.
– Ngoài ra còn có những yếu tố khác:
+ Sự co thắt các thớ cơ trơn trong các tua vòi trứng.
+ Vai trò nội tiết: lượng estrogen tăng cao trong giai đoạn phóng noãn, kích thích sự co bóp của các cơ trơn nên đã đẩy noãn di chuyển nhanh.
1.4. Sự thụ tinh
Vào khoảng ngày thứ 14 của vòng kinh 28 ngày, noãn từ buồng trứng được phóng ra ngoài, được loa vòi trứng hút vào trong vòi trứng. Nếu có tinh trùng ở âm đạo, tinh trùng chạy nhanh về phía cổ tử cung, lên buồng tử cung và vòi trứng để gặp noãn và thụ tinh. Hiện tượng thụ tinh thường diễn ra ở 1/3 ngoài của vòi trứng.
– Tinh trùng và noãn gặp nhau, tinh trùng bị hút vào noãn do mối liên kết lý hoá của một chất có trong màng trong suốt (chất fertilysine) và các men của tinh trùng .
– Tinh trùng vào màng trong: cực đầu (acrosom) của đầu tinh trùng tiết ra men hyaluronidase làm tan lớp tế bào hạt để tinh trùng đi đến được màng trong và tinh trùng đi qua được màng trong là nhờ sức đẩy của đuôi và cũng nhờ các men của acrosom. Đầu tiên tinh trùng tiết ra men protease tác động lên màng trong để nó chui qua dễ dàng sau đó nó tiết ra neuraminidase làm thay đổi cấu trúc của màng trong, làm cho các tinh trùng khác không qua được nữa.
– Tinh trùng vào trong noãn: khi tới màng bào tương của noãn, cực đầu của tinh trùng mất đi và đuôi của tinh trùng cũng ở ngoài. Nhân của tinh trùng nằm trong bào tương của noãn không khác gì nhân của bản thân noãn. Tinh trùng chui được vào trong noãn thì bào tương của noãn co lại và ở cách xa với màng trong để tránh không cho các tinh trùng khác vào.
– Sự biến đổi ở nhân:
+ Nhân của đầu tinh trùng chui vào noãn trở thành tiền nhân đực có 1n nhiễm sắc thể. Lúc ấy noãn loại cực cầu II và trở thành tiền nhân cái cũng có 1n nhiễm sắc thể.
+ Hai tiền nhân tiếp tục phát triển riêng rẽ nhau, các chất trong nhân tăng lên. ADN tập trung nhiều hơn và đông đặc lại.
+ Hai tiền nhân xích lại gần nhau, tiền nhân cái được hút vào tiền nhân đực hợp thành một nhân và phân bào.
Nếu tinh trùng xâm nhập vào noãn mang nhiễm sắc thể giới tính Y sẽ trở thành tế bào hợp nhất mang nhiễm sắc thể XY sẽ là thai trai. Nếu tinh trùng xâm nhập vào noãn mang nhiễm sắc thể giới tính X sẽ trở thành tế bào hợp nhất mang nhiễm sắc thể XX sẽ là thai gái.

 2. Sự di chuyển của trứng

Sau khi thụ tinh ở 1/3 ngoài của vòi trứng, trứng tiếp tục di chuyển trong vòi trứng để đến làm tổ ở buồng tử cung mất khoảng 3 – 4 ngày và sống tự do trong tử cung từ 2 – 3 ngày rồi mới làm tổ.
Trứng di chuyển nhờ 3 cơ chế:
– Nhu động của vòi trứng.
– Hoạt động của nhung mao niêm mạc vòi trứng.
– Luồng chất dịch hút từ ổ bụng chảy từ phía loa vòi trứng về buồng tử cung.
Nội tiết tố của buồng trứng (estrogen, progesteron) có tác dụng điều chỉnh sự co bóp của vòi trứng, ảnh hưởng đến nhu động của vòi trứng.
Trên đường di chuyển trứng phân bào rất nhanh. Từ một tế bào mầm phân chia thành hai tế bào mầm, rồi thành 4 tế bào mầm bằng nhau. Sau đó lại phân chia thành 8 tế bào mầm: 4 tế bào mầm to và 4 tế bào mầm nhỏ các tế bào mầm nhỏ phát triển nhanh hơn các tế bào mầm to, và khi các tế bào mầm nhỏ bao quanh các tế bào mầm to thì trứng ở trong giai đoạn phôi dâu. Gồm từ 16 – 32 tế bào. Trong phôi dâu dần dần xuất hiện một buồng nhỏ chứa chất dịch đẩy các tế bào sang một bên và trở thành phôi nang (vào ngày thứ 6, 7 kể từ ngày thụ tinh).
Các tế bào mầm nhỏ tạo thành lá nuôi có tác dụng nuôi dưỡng bào thai. Các tế bào mầm to nằm ở giữa sẽ trở thành các lá thai, sau này sẽ trở thành thai nhi.
Trứng tự do trong buồng tử cung khoảng 2 – 3 ngày có lẽ là để đạt mức phát triển cần thiết và cũng để cho niêm mạc tử cung chuẩn bị được thích hợp với sự làm tổ của trứng.
Nếu thời gian di chuyển của trứng kéo dài, vì một lý do nào đó (vòi trứng quá dài, vòi trứng gấp khúc, hẹp vòi trứng…) trứng chưa về buồng tử cung làm tổ mặc dù trứng vẫn tiếp tục phát triển gây chửa ngoài tử cung.
3. Sự làm tổ của trứng
Trứng bắt đầu làm tổ vào ngày thứ 6 – 8 sau khi thụ tinh (tức là ngày thứ 20 – 22 của vòng kinh), khi niêm mạc tử cung đã phát triển đầy đủ để chuẩn bị nhận trứng về làm tổ. Nơi làm tổ thường là ở vùng đáy tử cung, mặt sau nhiều hơn mặt trước. Các bước làm tổ bao gồm: dính, bám rễ, qua lớp biểu mô và nằm sâu trong lớp đệm.
Quá trình diễn biễn như sau:
– Ngày thứ 6 – 8 sau thụ tinh: phôi nang dính vào niêm mạc tử cung. Các chân giả xuất phát từ các tế bào nuôi bám vào biểu mô, gọi là hiện tượng bám rễ. Một số liên bào bị tiêu huỷ và phôi nang chui sâu qua lớp biểu mô.
– Ngày thứ 9 -10 sau thụ tinh: phôi thai đã chui qua lớp biểu mô trụ nhưng chưa nằm sâu trong lớp đệm, bề mặt chưa được biểu mô phủ kín.
– Ngày 11 – 12 sau thụ tinh: phôi nằm hoàn toàn trong lớp đệm nhưng chỗ nó chui qua biểu mô cũng chưa được che kín.
– Ngày thứ 13 – 14 sau thụ tinh: phôi nằm sâu trong niêm mạc và thường đã được biểu mô phủ kín. Trung sản mạc được biệt hoá thành hai lớp tế bào (lớp hội bào và lớp tế bào Langhans) và hình thành những gai rau đầu tiên.
Hiện tượng làm tổ chịu tác động của nhiều yếu tố sinh hoá học, miễn dịch học, đặc biệt là về nội tiết với sự chế tiết progesteron.
4. Sự phát triển của trứng và phần phụ của trứng:
Sau khi thụ tinh trứng phân chia rất nhanh để cấu tạo thành thai và phần phụ của thai.
– Về phương diện tổ chức, quá trình phát triển của trứng chia làm hai phần:
+ Phần trứng sau này trở thành thai.
+ Phần trứng sau này trở thành phần phụ của thai giúp cho thai phát triển.
– Về phương diện thời gian, quá trình phát triển của trứng chia làm hai thời kỳ:
+ Thời kỳ sắp xếp tổ chức: bắt đầu từ lúc thụ tinh đến hết tháng thứ hai.
+ Thời kỳ hoàn chỉnh tổ chức: từ tháng thứ 3 đến khi thai đủ tháng.
4.1. Thời kỳ sắp xếp tổ chức

4.1.1. Sự hình thành bào thai
Trong quá trình trứng di chuyển từ nơi thụ tinh trứng tiếp tục tăng trưởng thành phôi dâu và khi đến làm tổ ở buồng tử cung trứng đang ở giai đoạn phôi nang. Các tế bào mầm to tiếp tục phân chia và phát triển thành bào thai với hai lớp tế bào: lá thai ngoài và lá thai trong.
Vào ngày thứ 6 – 7 (kể từ khi thụ tinh) lớp tế bào mầm to đã biệt hoá thành lá thai trong.
Đến ngày thứ 8 sau thụ tinh tiếp tục biệt hoá thành lá thai ngoài.
Vào tuần lễ thứ 3 sau thụ tinh, ở giữa hai lá thai trong và lá thai ngoài sẽ phát triển thêm lá thai giữa.
Các lá thai này tạo ra bào thai (phôi thai) và sau tuần lễ thứ 8 sau thụ tinh phôi thai chuyển sang giai đoạn thai nhi.

Ở một phôi thai mới thành lập sẽ biệt hoá thành ba vùng:
– Vùng trước là đầu.
– Vùng giữa nhô về phía bụng, lưng có rãnh thần kinh.
– Vùng sau là phần đuôi.
Vùng trước và sau dần dần phình ra tạo thành chi trên và chi dưới.
Cuối thời kỳ phôi thai, phần đầu phôi to một cách không cân đối đã có những phác hình của mũi, miệng, tai ngoài. Tứ chi có những chồi ngón. Những bộ phận chính của cơ thể (tuần hoàn, tiêu hoá) đa số thành lập ở thời kỳ phôi.
Bài thai cong hình lưng tôm, về phía bụng của bài thai phát sinh ra nang rốn, trong có chứa các chất bổ dưỡng.
Từ các cung động mạch của thai, các mạch máu được phát ra đi vào nang rốn, lấy các chất bổ dưỡng về nuôi thai. Đó là hệ tuần hoàn thứ nhất hay hệ tuần hoàn nang rốn.
Về sau ở phía đuôi và bụng của bào thai lại mọc ra một túi khác gọi là nang niệu. Trong nang này có phần cuối của động mạch chủ. Trong thời kỳ sắp xếp tổ chức, hệ tuần hoàn nang niệu mới bắt đầu hoạt động.
4.1.2. Phát triển của phần phụ:
– Nội sản mạc: về phía lưng bào thai một số tế bào của lá thai ngoài tan đi làm thành một buồng gọi là buồng ối trong chứa nước ối. Thành của màng ối là một màng mỏng gọi là nội sản mạc.
– Trung sản mạc: các tế bào mầm nhỏ phát triển thành trung sản mạc. Trung sản mạc có hai lớp
+ Lớp ngoài là hội bào.
+ Lớp trong là các tế bào Langhans.
Trung sản mạc làm thành các chân giả bao vây quanh trứng, thời kỳ này gọi là thời kỳ trung sản mạc rậm hay thời kỳ rau toàn diện.
– Ngoại sản mạc: trong khi trứng làm tổ, niêm mạc tử cung phát triển thành ngoại sản mạc. Người ta phân biệt ba phần:
+ Ngoại sản mạc tử cung là phần chỉ liên quan đến tử cung.
+ Ngoại sản mạc trứng là phần chỉ liên quan đến trứng.
+ Ngoại sản mạc tử cung – rau là phần ngoại
sản mạc xen giữa lớp cơ tử cung và trứng.

 4.2. Thời kỳ hoàn chỉnh tổ chức

4.2.1. Sự phát triển của thai
Trong thời kỳ này bào thai gọi là thai nhi. Nó bắt đầu có đủ bộ phận chỉ còn việc lớn lên và hoàn chỉnh tổ chức mà thôi.

Bộ phận sinh dục ngoài giúp nhận rõ giới tính, chỉ nhận ra rõ rệt ở tháng thứ tư (tuần lễ thứ 16).
– Chức năng vận động từ sau tuần lễ thứ 16, người mẹ cảm thấy thai máy.
– Cuối tháng thứ 6, da thai còn nhăn được bao bọc bởi chất gây.
– Vào tháng thứ 7, lớp mỡ dưới da bớt nhăn, ngón tay và ngón chân có móng.
– Tuần lễ thứ 36 có điểm cốt hoá ở xương đùi. Đầu có tóc, vành tai ngoài mềm thường bị gấp nhăn lại vì thiếu sụn.
– Tuần thứ 38 có điểm cốt hoá ở đầu trên xương chày. Thai đủ tháng có da mịn trơn, được bao phủ bằng chất gây, có lông măng, móng tay dài hơn móng chân, vành tai cứng hơn vì đầy đủ sụn.
Trong thời kỳ này thai sống bằng hệ tuần hoàn thứ hai hay hệ tuần hoàn nang niệu. Nang niệu lôi kéo dần các mạch máu của nang rốn sang trong khi đó nang rốn dần dần teo đi. Cuối cùng hệ tuần hoàn nang niệu hoàn toàn thay thế cho nang rốn, rồi dần dần nang niệu cũng teo đi chỉ còn lại các mạch máu, đó là động mạch rốn và tĩnh mạch rốn.

4.2.2. Phát triển của phần phụ
– Nội sản mạc:
Nội sản mạc ngày càng phát triển. Buồng ối ngày càng rộng ra và bao quanh khắp thai nhi. Thai nhi lúc đó như con cá nằm trong nước ối.

 

– Trung sản mạc:
Các chân giả sẽ tan đi, trung sản mạc trở thành nhẵn, chỉ còn khu trú phát triển ở vùng bám vào tử cung. Tại vùng bám vào tử cung trung sản mạc phát triển thành gai rau với hai lớp tế bào là lớp hội bào và lớp tế bào Langhans. Trong lòng gai rau có tổ chức liên kết và các mao mạch của các mạch máu rốn lớp hội bào đục thủng niêm mạc tử cung thành các hồ huyết. Trong hồ huyết có hai loại gai rau.
+ Gai rau dinh dưỡng: lơ lửng trong hồ huyết, có nhiệm vụ đem các chất dinh dưỡng và Oxy trong máu mẹ về nuôi thai và trả về hồ huyết các chất bã và CO2 để người mẹ đào thải.
+ Gai rau bám: bám vào nóc hay vách hồ huyết, giữ cho bánh rau bám vào niêm mạc tử cung.
– Ngoại sản mạc:
Ngoại sản mạc trứng teo mỏng dần. Ngoại sản mạc tử cung cũng teo mỏng dần và gần đến đủ tháng thì hai màng này hợp lại làm một và chỉ còn lơ thơ từng đám. Ngoại sản mạc tử cung – rau tiếp tục phát triển và bị đục thành các hồ huyết. Trong hồ huyết có máu người mẹ từ các nhánh động mạch tử cung chảy tới. Sau khi trao đổi dinh dưỡng, máu theo tĩnh mạch tử cung về tuần hoàn mẹ.

Tham khảo bài giảng Sản phụ khoa ĐH Y Dược Thái Bình

One thought on “SINH LÝ THỤ TINH, LÀM TỔ VÀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA TRỨNG

  1. Quát Đẹp Trai

    Nhiều thằng lấy vợ muốn có con trai, nhưng không được thì đổ thừa tại vợ, nhưng trong thực-tế là bởi nó mà nó đéo hiểu!

    Reply

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *