TÍNH CHẤT THAI NHI VÀ PHẦN PHỤ ĐỦ THÁNG

By | 29/03/2014

1. Tính chất thai nhi đủ tháng
Thai nhi đủ tháng có cấu tạo giải phẫu gần giống người lớn, nhưng về sinh lý tuần hoàn hô hấp có những điểm khác so với người lớn. Thai nằm trong buồng ối lưng cong, đầu cúi, cằm sát vào ngực, 2 tay bắt chéo trước ngực, 2 cẳng chân gập vào đùi, 2 đùi gập sát vào bụng.
Thai đủ tháng có cân nặng trung bình 3000gr 200, có chiều cao trung bình từ 48 – 50cm.
1.1. Giải phẫu: Chỉ đề cập đến những phần có liên quan đến sản khoa, đặc biệt đầu thai nhi là phần quan trọng nhất

1.1.1. Đầu thai nhi
Là phần to và rắn nhất, nên rất quan trọng trong cơ chế đẻ, đặc biệt là phần sọ.
Sọ được cấu tạo bởi 9 xương: 2 xương đỉnh, 2 xương thái dương, 2 xương trán, xương chẩm, xương bướm và xương sàng. Phần sọ được chia làm 2 vùng: đỉnh sọ và đáy sọ.


– Vùng đáy sọ: gồm một phần các xương trán, thái dương, chẩm và các xương bướm, xương sàng. Vùng đáy sọ không thu hẹp được vì các xương đã được cốt hoá hoàn toàn, vì vậy trong những trường hợp thai chết, đầu khó ra phải làm thủ thuật kẹp đáy sọ.
+ Vùng đỉnh sọ: gồm 2 xương trán, 2 xương đỉnh và xương chẩm. Các xương ở vùng này chưa được cốt hoá hoàn toàn vì vậy giữa các xương là các khớp màng. Các đường khớp dọc gặp các đường khớp ngang tạo thành các thóp. Có 2 thóp quan trọng đó là:
+ Thóp trước (thóp lớn, thóp Bregma)
có hình tứ giác, được tạo bởi 2 xương trán và 2
xương đỉnh.
+ Thóp sau (thóp nhỏ, thóp Lamda) có hình tam giác, được tạo bởi 2 xương đỉnh và xương chẩm.
Bình thường diện các thóp không to lắm, nhưng trong trường hợp não úng thuỷ thì các đường khớp giãn rộng và các thóp cũng to lên nhiều.
– Các kích thước của đầu thai nhi
Đường kính trước sau: có 5 đường kính
+ Hạ chẩm – thóp trước : 9,5 cm là đường kính lọt trong ngôi chỏm đầu cúi tốt.
+ Hạ chẩm – trán: 11cm là đường kính ngôi chỏm đầu cúi vừa.
+ Chẩm – trán: 11,5 cm là đường kính lọt của ngôi chỏm đầu cúi không tốt.
+ Chẩm – cằm: 13 cm là đường kính lọt của ngôi thóp trước.
+ Thượng chẩm – cằm : 13,5 cm là đường kính lọt của ngôi trán.
Đường kính trên dưới:
+ Hạ cằm – thóp trước: 9,5 cm
Đường kính ngang:
+ Lưỡng đỉnh: 9,5 cm
+ Lưỡng thái dương: 8 cm
Chu vi đầu: có 2 chu vi
+ Chu vi lớn qua thượng chẩm- cằm 38cm
+ Chu vi nhỏ qua hạ cằm- thóp trước 33cm
1.1.2. Cổ và thân thai nhi
– Cổ giúp cho đầu thai nhi quay 1800, cúi ngửa nghiêng dễ dàng. Cổ chịu được một sức kéo không quá 50kg.
– Thân: các đường kính của thân thai nhi tham gia trong cơ chế đẻ đó là:
+ Đường kính lưỡng mỏm vai 12cm có thể thu hẹp còn 9 cm.
+ Đường kính lưỡng ụ đùi 9 cm.
+ Đường kính cùng chầy 11 cm, thu hẹp còn 9 cm.
+ Đường kính cùng mu 6 cm.
1.2. Sinh lý
Thai sống trong tử cung phụ thuộc hoàn toàn vào người mẹ qua hệ tuần hoàn tử cung rau vì vậy sinh lý bộ máy hô hấp, tuần hoàn có những điểm khác so với người lớn.


1.2.1. Tuần hoàn
Tim có 4 buồng nhưng 2 tâm nhĩ thông với nhau bởi lỗ Botal, động mạch phổi thông với động mạch chủ bởi ống động mạch. Từ 2 động mạch chậu trong tách ra 2 động mạch rốn đi theo dây rau vào bánh rau, máu đỏ đi từ các mao mạch của các tua rau trở về nuôi dưỡng thai nhi qua tĩnh mạch rốn.
Chu kỳ tuần hoàn như sau: máu đỏ từ các gai rau mang các chất dinh dưỡng và oxy đi vào thai nhi bằng tĩnh mạch rốn. Khi tới tĩnh mạch chủ dưới máu đỏ sẽ pha trộn với máu đen từ nửa
dưới cơ thể, để cùng đổ vào tĩnh mạch chủ. Đến tâm nhĩ phải máu một phần xuống tâm thất phải để
vào động mạch phổi, một phần qua lỗ Botal sang tâm
nhĩ trái. Vì phổi chưa làm việc nên 1 phần máu từ động mạch phổi theo ống thông động mạch đến động mạch chủ. Động mạch chủ cũng nhận máu từ tâm thất trái chảy ra, rồi đem đi nuôi khắp cơ thể, đến động mạch hạ vị tách ra hai động mạch rốn đưa máu về bánh rau để trao đổi chất. Như vậy, hầu hết máu trong thai nhi là máu pha, nồng độ bão hoà oxy thấp. Sau khi thai nhi sổ ra ngoài được gọi là trẻ sơ sinh, khi cuống rốn được cắt thì rau đình chỉ chức phận của nó. Trẻ sơ sinh bắt đầu thở, phổi bắt đầu hoạt động, tiểu tuần hoàn bắt đầu làm việc, lỗ Botal đóng lại, ống động mạch teo đi, các mạch máu rốn và ống Arantius không hoạt động. Trẻ sơ sinh bắt đầu sống với hệ tuần hoàn vĩnh viễn giống như người lớn.
1.2.2. Hô hấp
Thai nhi nằm trong tử cung sử dụng oxy trong máu người mẹ nhờ rau mang tới. Phổi chưa hoạt động nên xẹp, đặc, thả xuống nước thì chìm. CO2 từ các tế bào của thai nhi được chuyển vào các gai rau rồi thải vào các hồ huyết để về máu người mẹ. Máu từ tĩnh mạch rốn đến thai nhi có O2 nên mang màu đỏ, trái lại máu ở động mạch rốn thì có màu đen vì có chứa CO2. Sự trao đổi O2 và CO2 qua gai rau do sự chênh lệch nồng độ giữa máu mẹ và máu con quyết định, khi người mẹ bị ngạt thai nhi có thể nhường O2 cho mẹ và có thể chết trước. Nhưng thai nhi sử dụng ít O2 nên khả năng chịu đựng thiếu O2 của thai nhi khá cao. Máu động mạch của thai thường chỉ bão hoà khoảng 75% O2. Vì vậy trong trường hợp mẹ bị chết một cách đột ngột (do tai nạn…) thì thai nhi có thể sống thêm một thời gian và người ta có thể đặt vấn đề phẫu thuật nhanh để cứu thai nhi sau khi mẹ chết trong vòng 15 phút.
Tuy vậy, nếu thai nhi bị thiếu oxy thì sẽ có những hậu quả:
– Đầu tiên là toan khí do ứ đọng CO2 sau đó bị toan chuyển hoá do thừa acid lactic.
– Thiếu O2 sẽ gây hiện tượng tập trung tuần hoàn co mạch ngoại biên và nội tạng để tập trung máu vào những bộ phận quan trọng như não, tim. Tình trạng thiếu O2 làm tăng nhu động ruột và tống phân su vào nước ối. Vì vậy nước ối có lẫn phân su là triệu chứng quan trọng của suy thai .
1.2.3. Tiêu hoá
Khi còn trong bụng mẹ, thai nhi nhận những chất dinh dưỡng của mẹ từ bánh rau, thẩm thấu qua thành của các gai rau.
Bộ máy tiêu hoá cũng có hoạt động chút ít. Trong ống tiêu hoá có phân su là chất dịch sánh đặc, có chứa chất nhầy của niêm mạc dạ dầy, ruột, mật, nước ối do thai uống vào và ít tế bào bong từ đường tiêu hoá.
1.2.4. Bài tiết
Da có bài tiết chất nhờn và chất bã, bắt đầu từ tháng thứ 5
Thận đã hoạt động, có nước tiểu trong bàng quang, thai đái vào buồng ối. Ngay sau đẻ thai có thể đái ngay, nếu vì lý do nào đó làm bàng quang co bóp.
2. Tính chất của phần phụ đủ tháng
2.1 Các màng rau: Có 3 màng rau:
2.1.1 Ngoại sản mạc
Là phần ngoài nhất của màng rau, do niêm mạc tử cung đã biến đổi trong khi có thai còn gọi là màng rụng. Ngoại sản mạc có 3 phần: ngoại sản mạc tử cung, ngoại sản mạc trứng, ngoại sản mạc tử cung rau. Trong thời kỳ thai đủ tháng ngoại sản mạc trứng chỉ là 1 màng rất mỏng và kết hợp với phần ngoại sản mạc tử cung thành một màng thống nhất. Ngoại sản mạc phát triển không đều, có một phần phát triển rất mạnh là phần liên quan đến bánh rau gọi là ngoại sản mạc tử cung – rau. Các phần khác teo mỏng chỉ còn là màng, mầu vàng, hơi sần sùi có khi không thành một lớp liên tục, chỉ lấy ngón tay cào nhẹ cũng đủ làm màng đó bong ra dễ dàng vì vậy khi sổ rau dễ bị sót lại và cùng bị bong ra ngoài cùng với sản dịch trong thời kỳ hậu sản.

2.1.2. Trung sản mạc

Là lớp màng ở giữa, trung sản mạc cũng phát triển không đều. Một phần phát triển rất mạnh thành các gai rau. Phần còn lại teo đi chỉ còn là màng có tính chất không thấm nước nhưng dễ rách. Màng này bao bọc bên ngoài nội sản mạc. Nếu khi chuyển dạ trung sản mạc bị rách, nước ối thấm ra ngoài gọi là rỉ ối.
2.1.3. Nội sản mạc
Nội sản mạc mạc là 1 màng mỏng bao bọc mặt trong buồng ối (trong buồng ối có nước ối, cuống rốn và thai nhi), bao bọc xung quanh cuống rốn và phủ mặt trong bánh rau. Nội sản mạc không có mạch máu hay thần kinh, nó khác với trung sản mạc là dễ thấm nước nhưng rất dai và ngăn cản được vi khuẩn. Nếu nội sản mạc bị rách gọi là vỡ ối.
2.2. Bánh rau
2.2.1 Giải phẫu học
Bánh rau giống như một cái đĩa úp vào mặt trong tử cung. Bánh rau có đường kính từ 16 – 20 cm dày nhất ở trung tâm từ 2 – 3 cm, mỏng dần ở vùng rìa bánh rau còn khoảng 0,5cm. Khi đủ tháng bánh rau nặng khoảng 500gr ( bằng 1/6 trọng lượng thai). Bánh rau thường bám ở mặt trước, mặt sau, hoặc ở đáy tử cung, nếu rau bám xuống đoạn dưới thì gọi là rau tiền đạo.
Bánh rau có 2 mặt:
– Mặt phía buồng ối nhẵn, bao phủ bởi nội sản mạc. ở mặt này có cuống rốn bám vào và qua nội sản mạc thấy các nhánh của động mạch rốn và tĩnh mạch rốn.
– Mặt kia của bánh rau là mặt bám vào tử cung. Khi bánh rau đã sổ ra ngoài mặt này đỏ như thịt tươi, chia thành nhiều múi nhỏ (có khoảng 15 – 20 múi), giữa các múi cách nhau bởi các rãnh nhỏ.
Bánh rau là do sự kết hợp của ngoại sản mạc (phần ngoại sản mạc tử cung – rau) và trung sản mạc (phần trung sản mạc phát triển tại vị trí của ngoại sản mạc tử cung – rau).
– Phần ngoại sản mạc có các lớp đáy, xốp và đặc. Trong lớp đặc có các sản bào, các hồ huyết do các gai rau ăn thủng tạo thành.
– Phần trung sản mạc có các gai rau phát triển trong các hồ huyết phân nhánh nhiều cấp để làm tăng diện tích tiếp xúc với máu mẹ.
Có 2 loại gai rau:
– Gai dinh dưỡng: có nhiệm vụ lấy các chất dinh dưỡng từ máu mẹ về nuôi thai.
– Gai bám: bám vào vách hoặc nóc hồ huyết vừa có chức năng dinh dưỡng vừa giữ cho bánh rau bám vào tử cung.
Mỗi gai rau cấu tạo bởi một trục sợi mạch cấu tạo bằng mô sợi reticulin thưa và tế bào nuôi các nhánh của mạch máu cuống rốn, bao quanh bằng lớp tế bào mới. Mỗi gai rau trước 4,5 tháng gồm 2 loại tế bào Langhans và hội bào. Sau 4,5 tháng, nhất là từ tháng thứ 6 và thứ 7 trở đi chỉ còn một lớp hội bào, nhưng ngày càng mỏng đi. Chính vì vậy mà sự trao đổi tuần hoàn giữa mẹ và thai nhi ngày càng dễ dàng hơn trước. Sự trao đổi đó cũng nhiều hơn nhờ diện của các gai rau tăng lên. Diện tích trao đổi của bánh rau từ 12 m2 – 14 m2. Một vài tuần trước khi đẻ các gai rau xơ hoá, hệ mao mạch có chỗ bị tắc diện tích trao đổi sẽ giảm đi.
Máu mẹ từ động mạch đổ vào hồ huyết trở về bằng tĩnh mạch. Máu con từ nhánh của động mạch rốn vào gai rau trở về thai nhi bằng tĩnh mạch rốn.
2.2.2. Chức phận của bánh rau
Khả năng trao đổi các chất giữa mẹ và thai nhi tốt hay xấu tuỳ thuộc vào cấu trúc và tình trạng của các gai rau. Gai rau tắm trong máu mẹ, nhưng máu của mẹ không lưu thông trực tiếp với máu của con, vì có màng ngăn cách của thai thường gọi là màng chắn của rau. ở tuần thứ 12, độ dầy màng chắn của rau là 0,52 mm khi gần đẻ độ dầy còn 0,002mm do đó sự ngăn cách về mặt sinh lý giữa mẹ và con cũng kém đi. Máu mẹ không thông trực tiếp với máu con mà thường trao đổi các chất qua lớp hội bào của gai rau. Cơ chế trao đổi gồm nhiều cách:
+ Khuếch tán đơn giản, dựa vào sự khác biệt về nồng độ của chất trao đổi có trọng lượng phân tử dưới 600.
+ Khuếch tán gia tăng, nhờ các yếu tố chuyên chở như ion Ca+ +, Cl- cơ chế này tiêu thụ nhiều năng lượng tế bào.
+ Vận chuyển chủ động cần nhiều năng lượng.
+ Hiện tượng thực bào.
Nhờ nhiều cơ chế khác nhau, sự trao đổi qua rau của nhiều chất xảy ra liên tục giữa hai hệ tuần hoàn kín. Lưu lượng tuần hoàn của máu mẹ là 600 ml/phút trong khi lưu lượng tuần hoàn trong thai nhi là 70 – 200 ml/phút.
Hai chức phận cơ bản của bánh rau là:
+ Bảo đảm cho thai sống và phát triển.
+ Giữ vai trò nội tiết để cơ thể mẹ phù hợp với tình trạng thai nghén.
– Vai trò hô hấp
Máu thai nhi nhận O2 và thải CO2 vào máu mẹ trong hồ huyết. Sự trao đổi O2 từ máu mẹ sang máu con được dễ dàng là do:
+ Máu mẹ chảy qua hồ huyết rất chậm và áp lực máu hạ thấp hơn máu con.
+ Máu của mẹ có đậm độ O2 cao hơn và CO2 thấp hơn so với máu con.
+ Hemoglobin (Hb) của máu con có đặc tính thu nhận O2 một cách dễ dàng ngay cả khi đậm độ O2 của máu mẹ thấp.
+ Cấu trúc của gai rau làm tăng diện trao đổi giữa máu mẹ và máu con.
Thai muốn hô hấp đầy đủ O2 và đào thải CO2 thì máu mẹ trong hồ huyết phải luôn luôn đổi mới. Nếu dòng tuần hoàn tử cung – rau bị giảm đi trong trường hợp mẹ bị tăng huyết áp (tăng sức cản trong thành mạch) hoặc cơn co tử cung cường tính (tăng áp lực ngoài thành mạch) sẽ làm cho thai suy.
– Vai trò dinh dưỡng
Các chất cần cho năng lượng và tạo hình thai sẽ được đưa từ mẹ vào thai nhờ sự vận chuyển tích cực của gai rau.
+ Nước và các chất điện giải qua gai rau nhờ cơ chế thẩm thấu. Rau còn dự trữ sắt và calcium, nhất là vào những tháng cuối của thai kỳ
+ Các protein đi qua được là nhờ gai rau chuyển thành acid amin, rồi lại tổng hợp những protein đặc hiệu của thai.
+ Các chất mỡ qua rau rất hạn chế, vì vậy thai thường thiếu các loại vitamin tan trong dầu như: vitamin A, D, E, K. Đặc biệt khi thiếu vitamin K làm cho trẻ sơ sinh có tình trạng thiếu prothrombin sinh lý. Trái lại gai rau có khả năng tổng hợp một số loại phospholipid nhờ sự hiện diện của các men, đặc biệt là những loại nội tiết tố steroid của rau thai.
+ Vitamin: caroten qua rau khó khăn sau khi được biến đổi thành vitamin A và dự trữ trong gan của bào thai. Vitamin nhóm B và C qua rau rất dễ. Vitamin D cần thiết cho biến dưỡng phosphocalci qua rau nhưng nồng độ vẫn thấp hơn so với mẹ.
– Vai trò bảo vệ
+ Một số chất kháng nguyên và kháng thể có nguồn gốc protein có thể đi qua rau nhất là ở thời kỳ 4,5 tháng sau. Vì vậy thai có miễn dịch thụ động nhờ kháng thể của mẹ, hoặc máu của thai có thể bị tan huyết do ngưng kết tố của mẹ trong trường hợp bất đồng yếu tố Rh hoặc nhóm máu A, B, O giữa mẹ và thai.
+ Các mầm bệnh: về nguyên tắc bánh rau bảo vệ không cho vi khuẩn đi từ máu mẹ sang thai, nhưng một số vi khuẩn có thể qua hàng rào rau ở những tháng cuối. Virus qua gai rau dễ dàng hơn và có thể gây ra những dị dạng nghiêm trọng cho thai đặc biệt trong hai tháng đầu của thời kỳ thai nghén.
+ Các thuốc và hoá chất: có hoặc không qua gai rau không theo một quy luật nào, chính vì vậy phải hết sức thận trọng khi dùng thuốc cho phụ nữ có thai
– Vai trò của bánh rau đối với người mẹ
Những hormon của bánh rau làm cho người mẹ đáp ứng với tình trạng thai nghén.
+ Các hormon loại peptid:
HCG (Human Chorionic Gonadotropin) được tiết ra từ đơn bào nuôi (Cytotrophoblast) là một glycoprotein tác dụng kích thích hoạt động những mô mầm và kích thích tiết các steroid sinh dục. Sự tiết HCG bắt đầu khi có hiện tượng làm tổ, tăng nhanh tới mức tối đa vào khoảng tuần thứ 8 sau đó giảm nhanh đến mức ổn định kéo dài đến khi đẻ.
HPL (Human Placental Lactogen) được tiết ra bởi tế bào nuôi, tạo thuận lợi cho sự phát triển của thai nhi, có tác dụng sinh sữa, biến dưỡng glucid, lipid và protid. Lượng hormon tăng dần theo tuổi thai, đạt tối đa vào tuần lễ 26, sau đó hơi giảm.
+ Các hormon loại steroid
Gồm 3 loại: estrogen, progesteron và các steroid khác
Estrogen: gồm có estradiol, estriol và estrol. Lượng estrogen tiết ra phản ánh hoạt động của rau thai và sự phát triển của thai.
Progesteron được tiết ra từ rau thai một phần vào thai nhi, một phần vào cơ thể mẹ.
Các steroid khác như 17.cetoseroid, glucocorticoid cũng tăng lên khi có thai.
2.3. Cuống rốn (còn gọi là dây rau)
Cuống rốn chiếm một vị trí quan trọng trong sự vận chuyển máu giữa rau và thai. Khi thai đủ tháng, cuống rốn dài khoảng 45 – 60cm, đường kính khoảng 1,5 cm màu trắng, mềm, nhẵn và trơn. Một đầu cuống rốn bám vào trung tâm bánh rau, đầu kia bám vào bụng thai nhi. Cuống rốn được bao bọc bởi nội sản mạc, lớp này tiếp nối với hạ bì da bụng, lớp thượng bì da bụng bao quanh cuống rốn khoảng 1cm.
Về cấu tạo: cuống rốn từ ngoài vào là nội sản mạc sau đó là chất thạch Wharton, giữa lớp thạch Wharton có một tĩnh mạch rốn và 2 động mạch rốn. Vì lớp thạch Wharton có chỗ dày, chỗ mỏng, các động mạch xoắn xung quanh tĩnh mạch do đó cuống rốn không đều, chỗ to chỗ nhỏ và dễ bị xoắn lại. Nuôi dưỡng của dây rốn được thực hiện do thẩm thấu qua lớp nội sản mạc và từ các lòng mạch
2.4. Nước ối
Nước ối là một chất dịch sinh học, có khả năng tái tạo và trao đổi, nó giữ vai trò quan trọng đối với sự sống và phát triển của thai nhi trong tử cung.
2.4.1. Tính chất nước ối
Trong những tháng đầu, nước ối màu trong. Khi gần đủ tháng nước ối mầu lờ lờ trắng. Khi lẫn phân su nước ối màu xanh. Nếu thai chết trong tử cung, nước ối có màu hồng hoặc có mầu nâu đen. Lượng nước ối khi thai đủ tháng là 500 – 1000ml (tương đương 1/6 trọng lượng thai nhi).
Nước ối có tỷ trọng 1,006 và hơi nhớt, vị ngọt, mùi hơi tanh, pH hơi kiềm (7,10 – 7,30 ở cuối thời kỳ có thai). Trong nước ối có lẫn tế bào thượng bì thai bong ra, lông tơ, chất bã, các tế bào đường tiết niệu, sinh dục.
Thành phần của nước ối gồm 97% là nước còn lại là muối khoáng và các chất hữu cơ (protid, glucid, lipid, các hormon, chất màu). Các chất điện giải chính là Na+, K+, Cl-. Ngoài ra còn có phospho, calcium, magnesium…
2.4.2. Sự tái tạo của nước ối
Nước ối luôn được tái tạo, vào cuối thời kỳ có thai nước ối đổi mới 3 giờ một lần tức là lưu lượng khoảng 4 – 8 lít/ngày. Sự tái tạo này tăng dần đến khi thai đủ tháng và sau đó giảm dần.
– Nguồn gốc tạo thành nước ối: nước ối được sản sinh từ 3 nguồn gốc:
+ Thai nhi: da thai nhi, khí phế quản, do huyết tương của thai thẩm thấu qua niêm mạc hô hấp, hệ tiết niệu.
+ Nội sản mạc.
+ Từ máu của mẹ.
– Sự tiêu nước ối
+ Thai nhi uống nước ối
+ Thẩm thấu qua nội sản mạc.
– Chức năng của nước ối
+ Bảo vệ thai nhi tránh sang chấn và nhiễm trùng.
+ Giúp cho ngôi thai bình chỉnh tốt.
+ Thai nhi uống nước ối và đái vào buồng ối cũng có tác dụng giữ thăng bằng nước trong cơ thể.
+ Giữ cuống rốn khỏi bị khô.
+ Trong lúc chuyển dạ sự thành lập đầu ối tạo thuận lợi cho sự xoá mở cổ tử cung
+ Sau khi ối vỡ, tính nhờn của nước ối làm trơn đường sinh dục giúp cuộc đẻ dễ dàng hơn.
Sinh lý nước ối còn nhiều vấn đề phức tạp, nhưng trên thực tế việc bảo vệ ối trong khi chuyển dạ đẻ là rất quan trọng để thai bình chỉnh tốt tránh suy thai, tránh nhiễm khuẩn.

 Tham khảo Bài giảng Sản phụ khoa ĐH Y Dược Thái Bình

3 thoughts on “TÍNH CHẤT THAI NHI VÀ PHẦN PHỤ ĐỦ THÁNG

  1. Đoàn Ngọc Luân

    Xin phép cho em hỏi:
    – Các chất cấu tạo nên nước ối là gì ạ? Xin mọi người cho em biết cụ thể chất nào, nằm ở vị trí nào.
    – Khi xin con trong bọc điều, có phải nước ối và toàn bộ cấu tạo của buồng ối còn nguyên không ạ?
    – Có cách nào để tăng độ dày của lớp ối tăng lên không ạ? (để tỉ lệ sinh con trong bọc điều tăng lên)
    – Khi mẹ bị nhiễm HIV, virus được truyền qua nhau rau hay bị đứa con bị nhiễm khi sinh con vì nước ối có lẫn HIV ạ?

    Reply
    1. Công Tử

      Mình cũng đang tìm hiểu vấn đề này, theo mình nước ối được tạo thành một phần bắt nguồn từ huyết thanh mẹ vì nồng độ các chất hòa tan trong nước ối giống nồng độ các chất ấy trong huyết thanh mẹ và một phần do các tế bào màng ối tạo ra, ngoài ra còn do thai nhi tiểu vào, các tổ chức da… thai nhi//
      các câu dưới nhờ các bạn khác

      Reply
  2. Công Tử

    Khi mẹ bị nhiễm HIV, virus được truyền qua nhau rau hay bị đứa con bị nhiễm khi sinh con vì nước ối có lẫn HIV ạ?
    trả lời bạn, mẹ chỉ truyền HIV cho con khi có sự thông thương máu mẹ máu con, nhất là các tháng cuối thai kì, khi chuyển da, có tổn thương bánh rau.

    Reply

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *